Chính trị

Những nội dung chính của Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân

19/05/2026 08:24

Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2025, số 121/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/03/2026.


 

 

1. Phạm vi và khái niệm

 Luật này quy định về hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các chủ thể giám sát, bao gồm: Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Thường trực, Ban, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân.

 Giám sát là phương thức kiểm soát quyền lực nhà nước, bao gồm: giám sát tối cao, giám sát chuyên đề, giám sát văn bản pháp luật, chất vấn, giải trình.

2. Nguyên tắc hoạt động giám sát

1. Bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng Cộng sản Việt Nam.

2. Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật.

3. Khách quan, công khai, minh bạch, hiệu quả.

4. Tập trung trọng tâm, đáp ứng thực tiễn.

5. Gắn kết với hoàn thiện chính sách, pháp luật.

6. Không cản trở hoạt động bình thường của đối tượng giám sát.

3. Quyền và trách nhiệm của chủ thể giám sát

Có quyền yêu cầu báo cáo, cung cấp tài liệu, giám định, mời chuyên gia, đề nghị cử người tham gia, yêu cầu áp dụng biện pháp chấm dứt vi phạm.

          Ban hành nghị quyết, kết luận, kiến nghị; thực hiện quyền theo luật.

Có trách nhiệm thông báo trước kế hoạch, tuân thủ thẩm quyền, bảo vệ thông tin, trả lời, chịu trách nhiệm về báo cáo, giám sát kết quả, báo cáo định kỳ.

4. Quyền và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu giám sát

Được thông báo, trả lời, giải trình, đề nghị xem xét lại kết luận.

Cung cấp thông tin, chịu trách nhiệm về tính chính xác.

Không cản trở giám sát, thực hiện nghị quyết, kết luận giám sát.

5. Tham gia và phối hợp

Mặt trận Tổ quốc, chuyên gia, cơ quan thanh tra, kiểm toán, các cơ quan có thẩm quyền được mời hoặc phải cung cấp thông tin.

Phối hợp tránh trùng lặp, nâng cao hiệu quả.

6. Công khai, minh bạch

Chương trình, kế hoạch, báo cáo, nghị quyết, kết luận, kiến nghị, trả lời chất vấn phải đăng tải trên cổng thông tin điện tử hoặc các phương tiện công chúng, trừ trường hợp pháp luật quy định khác.

7. Đánh giá hiệu quả

Đánh giá dựa trên việc thực hiện đường lối, chủ trương, thời điểm, tác động tới bộ máy nhà nước và hoàn thiện pháp luật.

Chủ thể giám sát báo cáo định kỳ cho cử tri và cơ quan có thẩm quyền.

8. Quyền giám sát cụ thể

Quốc hội: giám sát tối cao Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án, Viện kiểm sát, Kiểm toán, văn bản quy phạm pháp luật; đề xuất bãi bỏ, miễn nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội: giám sát Chính phủ, Tòa án, Viện kiểm sát, Kiểm toán, nghị quyết hội đồng nhân dân; giải thích, đình chỉ, bãi bỏ văn bản, kiến nghị miễn nhiệm.

Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội: giám sát cùng lĩnh vực, đề xuất sửa đổi pháp luật, giám sát thực hiện hiệp định quốc tế.

Đoàn đại biểu Quốc hội: giám sát Ủy ban nhân dân, Tòa án, Viện kiểm sát địa phương; đề xuất kiến nghị, báo cáo.

Đại biểu Quốc hội: chất vấn, giám sát văn bản, thực thi pháp luật tại địa phương, đề xuất kiến nghị.

Hội đồng nhân dân: giám sát Thường trực, Ban, Ủy ban nhân dân, Tòa án, Viện kiểm sát, văn bản quy phạm pháp luật; có quyền đình chỉ, miễn nhiệm, bãi bỏ, giải tán hội đồng cấp dưới.

Thường trực, Ban, Tổ đại biểu: tổ chức Đoàn giám sát, giải trình, đề nghị sửa đổi, miễn nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm.

9. Bảo đảm hoạt động giám sát

Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Thường trực Hội đồng nhân dân chỉ đạo, điều hòa, phối hợp, tránh trùng lặp.

Nghị quyết giám sát có giá trị pháp lý bắt buộc; nếu không đồng ý, có quyền đề nghị xem xét lại.

Kinh phí từ ngân sách nhà nước; nhà nước đầu tư cơ sở vật chất, công nghệ, chuyển đổi số.

Văn phòng Quốc hội, Vụ chuyên môn, Văn phòng Đoàn, Văn phòng hội đồng nhân dân chịu trách nhiệm tổ chức, hỗ trợ nhân lực; huy động chuyên gia, đào tạo, bồi dưỡng.

Ứng dụng công nghệ, chia sẻ dữ liệu giữa các chủ thể giám sát, cơ quan thanh tra, kiểm toán.

Hội đồng nhân dân phường