Trong bối cảnh chuyển đổi số đang trở thành xu thế tất yếu trên toàn cầu, việc xây dựng một khuôn khổ pháp lý thống nhất, đồng bộ là yêu cầu cấp thiết đối với mỗi quốc gia. Luật Chuyển đổi số số 148/2025/QH15 được Quốc hội thông qua là bước tiến quan trọng trong hoàn thiện thể chế, tạo nền tảng pháp lý vững chắc để thúc đẩy quá trình số hóa quốc gia, hướng tới phát triển bền vững, bao trùm và lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm
Thông tin chung và phạm vi điều chỉnh của Luật Luật Chuyển đổi số, số hiệu 148/2025/QH15, chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026. Đây là đạo luật đầu tiên tại Việt Nam điều chỉnh một cách toàn diện các vấn đề liên quan đến chuyển đổi số. Luật quy định về nguyên tắc, chính sách của Nhà nước; các biện pháp bảo đảm thực hiện; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quá trình chuyển đổi số. Phạm vi điều chỉnh của Luật bao trùm cả ba trụ cột chính là Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số, áp dụng đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước tham gia hoặc có liên quan đến hoạt động chuyển đổi số tại Việt Nam.
Chính phủ số – Trụ cột trung tâm trong quản trị quốc gia hiện đại Luật xác định Chính phủ số là mô hình tổ chức và vận hành của cơ quan nhà nước trên môi trường số, dựa trên dữ liệu và hạ tầng số nhằm nâng cao chất lượng quản lý, điều hành và phục vụ người dân, doanh nghiệp. Theo đó, các cơ quan nhà nước từng bước chuyển đổi phương thức làm việc truyền thống sang môi trường số, tăng cường sử dụng dữ liệu số trong quá trình ra quyết định, đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình, minh bạch, thuận tiện. Việc xây dựng Chính phủ số không chỉ góp phần cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước mà còn củng cố niềm tin của người dân đối với bộ máy chính quyền trong kỷ nguyên số.
Kinh tế số – Động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế Luật Chuyển đổi số dành một nội dung quan trọng để quy định về phát triển kinh tế số. Kinh tế số được xác định là các hoạt động kinh tế dựa trên dữ liệu số, hạ tầng số và các mô hình kinh doanh, quản trị dựa trên công nghệ số, nhằm tạo ra giá trị gia tăng mới và nâng cao năng suất lao động. Nhà nước có chính sách hỗ trợ, khuyến khích doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ kinh doanh tham gia chuyển đổi số thông qua các cơ chế hỗ trợ tài chính, đào tạo, tư vấn và kết nối nền tảng số. Việc phát triển kinh tế số góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế.
Xã hội số – Hướng tới phát triển bao trùm và nhân văn Luật nhấn mạnh xây dựng xã hội số là quá trình trong đó cá nhân, tổ chức chủ yếu tương tác, học tập, làm việc và tiếp cận các dịch vụ trên môi trường số. Một nội dung nổi bật của Luật là chú trọng thu hẹp khoảng cách số giữa các vùng miền, các nhóm dân cư, bảo đảm mọi người dân đều có cơ hội tiếp cận và thụ hưởng thành quả của chuyển đổi số. Nhà nước có chính sách hỗ trợ người cao tuổi, người khuyết tật, người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn trong việc tiếp cận hạ tầng số, dịch vụ số và nâng cao kỹ năng số.
Nguyên tắc và chính sách lớn của Nhà nước về chuyển đổi số Luật Chuyển đổi số xác định các nguyên tắc cốt lõi trong quá trình thực hiện chuyển đổi số, trong đó lấy người sử dụng làm trung tâm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân. Nhà nước ưu tiên bố trí, huy động nguồn lực để phát triển hạ tầng số dùng chung, xây dựng trung tâm dữ liệu quốc gia, các nền tảng số quốc gia làm nền tảng cho Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Đồng thời, Luật khuyến khích hợp tác công – tư, thúc đẩy hợp tác quốc tế song phương, đa phương nhằm trao đổi kinh nghiệm, chuyển giao công nghệ và thu hút đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực chuyển đổi số.
Nguồn lực và biện pháp bảo đảm thực hiện chuyển đổi số Luật quy định rõ trách nhiệm bảo đảm nguồn lực cho chuyển đổi số. Theo đó, ngân sách nhà nước hằng năm bố trí chi cho chuyển đổi số với tỷ lệ tối thiểu 1% tổng chi ngân sách; đồng thời dành tối thiểu 3% cho phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo gắn với chuyển đổi số. Về nhân lực, Luật đặt ra yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng năng lực số cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động; có chính sách đặc thù để thu hút, trọng dụng chuyên gia, nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực công nghệ số. Hạ tầng số được xác định là nền tảng quan trọng, bao gồm hạ tầng viễn thông, trung tâm dữ liệu, điện toán đám mây, hạ tầng kết nối và truyền dẫn dữ liệu.
Các hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động chuyển đổi số Để bảo đảm môi trường số an toàn, minh bạch và lành mạnh, Luật quy định rõ các hành vi bị nghiêm cấm như cản trở, phá hoại hoạt động chuyển đổi số; truy cập, chiếm đoạt, làm sai lệch dữ liệu số trái pháp luật; thu thập, mua bán, sử dụng dữ liệu số không đúng quy định; lợi dụng chuyển đổi số để lừa đảo, trục lợi, xâm phạm lợi ích quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng nhằm phòng ngừa, xử lý vi phạm và bảo vệ quyền lợi chính đáng của các chủ thể trong môi trường số.
Ý nghĩa và tác động của Luật Chuyển đổi số Việc ban hành Luật Chuyển đổi số số 148/2025/QH15 có ý nghĩa chiến lược trong tiến trình phát triển đất nước. Luật không chỉ góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo hành lang pháp lý thống nhất cho chuyển đổi số mà còn thúc đẩy đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế số và xây dựng xã hội số hiện đại, bao trùm. Với định hướng lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm, bảo đảm an toàn, an ninh và phát triển bền vững, Luật Chuyển đổi số được kỳ vọng sẽ trở thành động lực quan trọng đưa Việt Nam phát triển nhanh và vững chắc trong kỷ nguyên số.